VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG SƯ PHẠM

1. Hiện nay không riêng gì nước ta mà hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học. Đây là vấn đề khó khăn nhất  đối với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của công cuộc CNH HĐH đất nước ta trong thế kỉ XXI.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học điều quan trọng bậc nhất là đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên (GV) - một yếu tố có tính chất quyết định chất lượng hiệu quả dạy học - làm sao cho họ có đủ bản lĩnh chính trị trình độ chuyên môn và năng lực nghiệp vụ sư phạm để đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở phổ thông góp phần thiết thực nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục mà hiện nay đang giảm sút một cách đáng lo ngại. Vấn đề này không thể không bắt đầu từ nhận thức về lí luận trong đó trước hết cần thiết xác định một quan niệm và nguyên tắc đào tạo cho đúng đắn phù hợp.
      
2. Quan niệm về đào tạo GV sẽ quy định nội dung và phương thức đào tạo. Một quan niệm đào tạo truyền thống hay hiện đại sẽ dẫn đến việc xác định nội dung phương thức đào tạo cũ hay mới. Trước đây theo cách tiếp cận truyền thống việc đào tạo GV ở trường sư phạm chỉ chú trọng trang bị kiến thức bộ môn rồi thứ đến mới chú ý tới việc truyền đạt kiến thức còn việc thực hành nghề nghiệp trong thực tế học tập hàng ngày thì rất ít được coi trọng. Ở đây mô hình đào tạo GV là những chuyên gia về môn học. Mô hình này xuất phát từ triết lí giáo dục lấy người dạy làm trung tâm từ cách tiếp cận việc dạy bằng chính hoạt động dạy.
      
Theo tư tưởng sư phạm hiện đại việc đào tạo GV được xác định trước hết không phải bằng hoạt động dạy mà phải bằng các hoạt động học của người học. Nói cách khác cách tiếp cận hoạt động dạy phải xuất phát từ cách đặt vấn đề về cách thức học sinh (HS) học như thế nào. Bởi vì mọi hành động của GV xét đến cùng đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học của HS. Đây là quan niệm đào tạo GV theo triết lí giáo dục lấy người học làm trung tâm. Đặt HS vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học đòi hỏi GV phải chú ý quan tâm và hướng hành động sư phạm của mình vào HS tạo điều kiện thuận lợi cho việc học để HS tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức tự phát triển năng lực và nhân cách. Như vậy năng lực sư phạm của GV không chỉ là nắm chắc nội dung dạy học và khả năng truyền đạt tri thức mà còn tổ chức việc học của HS giúp HS hình thành một quan điểm họccách thức học thích hợp với nhu cầu và khả năng của mỗi người. Ở đây GV không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức bộ môn mà phải giúp HS biết cách học biết nắm lấy phương pháp tìm kiếm chiếm lĩnh tri thức. Người GV từ chỗ là chuyên gia về môn học đã trở thành chuyên gia về việc học của HS. Như vậy năng lực sư phạm của GV thể hiện ở khả năng vừa đi sâu vào nội dung môn học vừa đi sâu vào việc học. Một GV giảng dạy có hiệu quả phải là người am tường tri thức và hiểu biết khoa học luận thuộc lĩnh vực bộ môn giảng dạy đồng thời nắm vững một hệ thống đầy đủ các cách thức biện pháp sư phạm để có thể lựa chọn cách thức này hay cách thức khác trong xử lí những tình huống dạy học cụ thể nhằm đạt được hiệu quả tối ưu. Đây là một đặc trưng cơ bản của nghề dạy học và là cơ sở lí luận để quy chiếu các năng lực sư phạm đòi hỏi phải hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo người GV.
      
Nói vậy là vì dạy học không thể là một việc làm chỉ cần nắm kiến thức bộ môn là đủ để có thể thực hiện được. Kiến thức bộ môn chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để người GV có thể giảng dạy. Dạy học cũng không thể là một công việc hoàn toàn phụ thuộc vào năng khiếu khả năng sư phạm có tính chất thiên tư của người GV mà đòi hỏi một loạt các năng lực kĩ năng nghiệp vụ có tính đặc trưng cho nghề nghiệp. Chính những năng lực này và cùng với nó là kiến thức bộ môn cũng như những tri thức cần thiết thuộc phạm vi khác cần được hình thành phát triển cho người GV trong quá trình đào tạo. Bởi vì những năng lực nghề nghiệp không phải là cái có sẵn mà đang được hình thành thông qua hoạt động thực hành rèn luyện nghiệp vụ trong suốt quá trình đào tạo cũng như hoạt động nghề nghiệp sau này.
      
Như vậy việc đào tạo GV cần dựa trên một quan niệm toàn diện cân đối giữa trang bị kiến thức và phương pháp luận bộ môn cũng như những hiểu biết khác với việc hình thành một hệ thống năng lực kĩ năng nghề nghiệp có tính chuyên môn hoá. Xuất phát từ quan niệm này việc đào tạo GV trong các trường sư phạm nhất thiết phải thông qua một chương trình thực hành nghiệp vụ với một hệ thống các thao tác kĩ năng cụ thể với những chỉ dẫn sư phạm cần thiết tỉ mỉ nhằm giúp sinh viên thực hành luyện tập nhờ đó đạt được những kĩ năng và sự thành thạo nhất định để có thể thực hiện được các nhiệm vụ yêu cầu do hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi khi họ đi vào “hành nghề” sau này.
        

3. Để giúp cho sinh viên đi sâu vào các tri thức bộ môn và thành thạo trong thực hành luyện tập kĩ năng nghề nghiệp cần xác định một số vấn đề có tính nguyên tắc phù hợp với quan niệm trên đây.
 

3.1. Đào tạo giáo viên phải kết hợp đi sâu vào kiến thức bộ môn và kiến thức tâm lí - giáo dục lí luận và phương pháp dạy học với những kĩ năng sư phạm cần thiết để tổ chức hướng dẫn hoạt động học cho HS.
        
Trong quá trình đào tạo không nên tuyệt đối hoá hay đề cao đến mức cực đoan kiến thức và phương pháp luận bộ môn mà giáo sinh sẽ dạy. Song cũng cần thấy rằng: sự thiếu hiểu biết đi sâu vào nội dung môn học sẽ không cho phép người GV hướng dẫn HS tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức bộ môn một cách chắc chắn và sáng tạo. Một điều không thể chối cãi là trình độ năng lực giảng dạy của GV một phần phụ thuộc vào việc nắm chắc làm chủ một tổng thể tri thức bộ môn giảng dạy và những hiểu biết thấu đáo về phương pháp luận bộ môn đó. Thế nhưng là một chuyên gia về việc học người GV không thể không tính toán đến những câu hỏi: Nên ưu tiên những kiến thức nào trong giảng dạy? Để HS chiếm lĩnh được kiến thức đó cần phải tổ chức hướng dẫn HS tiếp cận theo những cách thức quy trình nào? Cái gì có thể xảy ra trong đầu HS khi họ hành động theo cách thức như vậy? Con đường nào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho HS vận hành việc học để lĩnh hội tri thức một cách tích cực và sáng tạo?... Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi người giáo sinh phải nắm chắc và làm chủ kiến thức nghề nghiệp hiểu biết về tâm lí - giáo dục về lí luận dạy học và phương pháp giảng dạy bộ môn. Những kiến thức nghề nghiệp này không phải biết để biếtbiết để làm để sử dụng một cách có hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động dạy học ở trường phổ thông sau này. Vì vậy trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm giáo sinh cần phải được luyện tập thực hành những kĩ năng nghiệp vụ thiết thực dựa trên sự hiểu biết và nắm vững các chiến lược giảng dạy để khi ra trường có thể làm chủ một hệ thống tương đối đầy đủ chắc chắn các năng lực nghề nghiệp các cách thức thao tác thực hành sư phạm nhằm tổ chức hướng dẫn việc học cho HS  một cách có hiệu quả.
      

3.2. Đào tạo giáo viên phải kết hợp chặt chẽ giữa thực hành sư phạm với phân tích lí thuyết làm cơ sở cho thực hành.
      
Việc đào tạo GV trong trường sư phạm chẳng những phải kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức bộ môn và kiến thức tâm lí - giáo dục lí luận và phương pháp dạy học với những kĩ năng nghề nghiệp cần thiết để tổ chức điều khiển hoạt động dạy học mà còn phải ưu tiên kết hợp giữa thực hành sư phạm với phân tích lí thuyết làm cơ sở cho thực hành luyện tập. Đây là hai nguyên tắc đào tạo có quan hệ thống nhất chứ tuyệt nhiên không phải là các cách diễn đạt khác nhau về cùng một luận điểm. Nguyên tắc thứ nhất là sự nhận thức toàn diện cân đối về mối quan hệ hữu cơ giữa kiến thức bộ môn và hiểu biết lí thuyết về tâm lí - giáo dục về lí luận và phương pháp dạy học với những kĩ năng nghề nghiệp tương ứng. Còn nguyên tắc thứ hai là sự nhìn nhận đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa hoạt động luyện tập thực hành sư phạm với sự hiểu biết và phân tích lí thuyết làm cơ sở cho hoạt động thực hành đó. Trong thực tế đào tạo không phải không còn gặp hiện tượng giáo sinh có thể nắm vững những hiểu biết lí thuyết nhưng chỉ biết để biết chứ không phải biết để làm vì những hiểu biết đó không gắn kết với các kĩ năng thao tác thực hành không ứng dụng được vào những tình huống dạy học trong thực tiễn. Ngược lại có trường hợp thực hành của giáo sinh chỉ là mô phỏng bắt chước đơn giản có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa các hoạt động thực hành mà thiếu sự phân tích cơ sở lí thuyết tương ứng vốn được coi là mô hình hoá hoạt động thực hành.
      
Trong quá trình đào tạo GV phải thường xuyên chú ý kết hợp giữa hiểu biết lí thuyết và thực hành coi trọng thực hành. Việc thực hành phải thực sự là sự vận dụng lí thuyết vào thực tiễn. Mặt khác những hiểu biết lí thuyết cần phải sản sinh ra những hoạt động thực hành và xuất phát từ sự phân tích thực hành làm cho việc thực hành trở nên sáng rõ và có thể phân tích được bằng những hiểu biết lí thuyết. Như vậy sự kết hợp này đòi hỏi lí thuyết phải có đầy đủ ý nghĩa thực tiễnthực hành phải mang đầy đủ ý nghĩa lí luận. Nói cách khác sự hiểu biết lí thuyết phải dẫn đến thực hành định hình cho thực hành và việc thực hành có thể làm nảy sinh nhu cầu hiểu biết lí thuyết mang lại thông tin cho lí thuyết. Song cũng cần thấy rằng: việc thực hành giảng dạy không chỉ quy về sự áp dụng một mô hình lí thuyết bởi vì nó không thể bao trùm toàn bộ việc thực hành được. Do vậy trong quá trình thực hành cần kết hợp hành động với suy nghĩ bằng lí luận về hành động. Đây là một đòi hỏi rất cần thiết vì như vậy việc thực hành sẽ được mô hình hoá bằng lí thuyết được phân tích bằng hiểu biết lí thuyết tránh được sự bắt chước giản đơn. Hơn nữa lí thuyết và thực hành luôn được đặt trong mối quan hệ qua lại thường xuyên và điều chỉnh lẫn nhau.
      
Những vấn đề trên đây chứng tỏ sự cần thiết phải đưa vào chương trình đào tạo một hệ thống kĩ năng thao tác thực hành nghiệp vụ cụ thể dựa trên quan niệm và mô hình lí thuyết tương ứng. Trong quá trình đào tạo bên cạnh trang bị cho giáo sinh những tri thức bộ môn và kiến thức nghề nghiệp nhất thiết phải tổ chức hướng dẫn họ thực hành luyện tập để đạt được ở một mức độ thành thạo nhất định những kĩ năng thao tác nghiệp vụ này giúp họ có thể làm chủ được hoạt động dạy học ở phổ thông sau khi ra trường.
      

3.3. Cần tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa luyện tập thực hành sư phạm với hoạt dộng nghề nghiệp của giáo viên.
 
Việc đào tạo ở trường sư phạm chẳng những chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai của giáo sinh mà còn là cơ hội giúp họ trải qua các kinh nghiệm trong việc “hành nghề”. Vì vậy bên cạnh trang bị những kiến thức bộ môn những hiểu biết thuộc lĩnh vực giáo dục và dạy học còn phải giúp giáo sinh nắm vững những kĩ năng nghề nghiệp thông qua luyện tập thường xuyên và có hệ thống. Song phải thừa nhận rằng: không có một chỉ dẫn thực hành sư phạm nào là vạn năng bởi vì không thể nào lường trước hết được tất cả những tình huống đặc thù trong khi “hành nghề”. Bởi vậy trong quá trình đào tạo cần chú ý kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hành sư phạm với hoạt động nghề nghiệp của GV. Nói khác đi việc luyện tập thực hành sư phạm không nhằm mục đích chỉ để thực hành mà cần gắn kết với những nhiệm vụ tình huống dạy học sau này giáo sinh sẽ phải đảm nhận thực thi trên lớp học.
      
Thế nhưng việc thực hành gắn với hoạt động nghề nghiệp của GV cũng không có nghĩa là giúp giáo sinh làm quen với mô hình sẵn có hay rập khuôn máy móc theo lề lối cũ mà cần giúp người GV tương lai bằng sự suy nghĩ sáng tạo biết phân tích quy chiếu với mô hình lí thuyết - thực hành được đào tạo. Từ đó có thể làm thay đổi tầm nhìn về hoạt động nghề nghiệp sau này đồng thời làm cho việc luyện tập thực hành hợp lí hơn. 
      
Tuy nhiên việc thực hành ở trường sư phạm có thể không cho phép giáo sinh quan sát phân tích được sự vận hành của hoạt động học vì thiếu vắng những chủ thể HS thiếu vắng một cộng đồng có nhân cách của lớp học. Điều đó làm cho hoạt động thực hành của giáo sinh thường tập trung vào việc dạy mà chưa hướng đến việc học của HS chưa chú ý xử lí mối quan hệ tương tác đa chiều giữa GV - HS - tri thức. Vì vậy trong quá trình đào tạo nói chung và thực hành sư phạm nói riêng phải chú ý đúng mức đến hoạt động nghề nghiệp tương lai của giáo sinh. Chúng ta không thể đòi hỏi ở giáo sinh sự vận dụng thành thạo những kĩ năng nghề nghiệp để thực hiện những nhiệm vụ xử lí các tình huống dạy học khi “hành nghề” nếu chưa giúp họ thực hành phân tích và trải nghiệm được những nhiệm vụ tình huống đó trong quá trình đào tạo. Bởi vậy một đòi hỏi có tính nguyên tắc là trong quá trình đào tạo cần phải thông qua thực hành rèn luyện nghiệp vụ để giúp cho người GV tương lai làm chủ được những năng lực kĩ năng nghề nghiệp tương ứng với những nhiệm vụ tình huống dạy học cụ thể mà khi ra trường họ phải đảm nhiệm và xử lí hằng ngày trên lớp học.

4
. Tóm lại trên đây góp bàn đôi điều về quan niệm và một số vấn đề có tính nguyên tắc về đào tạo GV trong các trường sư phạm. Đây là vấn đề phức tạp bao gồm nhiều vấn đề đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu nhất là tiếp cận theo quan điểm đào tạo mới. Tham luận này cũng chỉ là vài ý kiến nhỏ góp vào tiếng nói chung đã được cất lên từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như Nguyễn Kỳ Michel Develay... Vấn đề có thể cần trao đổi thêm song thực tiễn đào tạo ở các trường sư phạm thì đang đòi hỏi cấp thiết một sự nhất trí về quan niệm và những nguyên tắc chung để tiến hành đào tạo một cách đồng bộ và có hiệu quả hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
  1. Michel Develay Một số vấn đề về đào tạo giáo viên GD HN 1998.
  2. Patrice Pelpel Tự đào tạo để dạy học GD HN 1998.
  3. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên) Quá trình dạy - tự học GD HN 1998.
   

Trần Thế Hưng

A Miên thân !

Thân chào Anh Miên!
Em đã giới thiệu Blogs của Anh cho anh em học viên K11 QLGD. Anh có thể đưa lên Giáo trình bài tập Logic học cho mọi người tham khảo và học tập.
Chúc Anh sức khỏe thành đạt hạnh phúc. Chúc Anh viết thật nhièu bài viết hay.
Em
Thế Hưng