ĐỌC HIỂU – VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN

5. Hai mô hình tổ chức hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản


* Mô hình của GS. Trần Đình Sử


* Mô hình của GS. Nguyễn Thanh Hùng


* Mô hình của GS. Trần Đình Sử

 

1. Đọc hiểu nghĩa từ ngữ câu đoạn trong văn bản 
- Đọc hiểu nghĩa từ ngữ trong văn bản là khâu quan trọng. Ý nghĩa của từ ngữ trong văn bản là ý nghĩa mang nội hàm tư tưởng và văn hoá chứ không giản đơn chỉ là ý nghĩa từ điển và ý nghĩa thông dụng hàng ngày. Vì vậy GV cần tìm trong mỗi bài những từ ngữ tiêu biểu có ý nghĩa sâu quan hệ đến tư tưởng của bài (đoạn trích) mà nêu câu hỏi hướng dẫn cho học sinh đọc hiểu.

- GV phải trích từng câu từng đoạn ra yêu cầu các em giải thích tức là buộc các em phải dừng lại trên từng chữ từng dòng suy ngẫm và phân tích ý nghĩa của chúng có như thế mới thực sự rèn luyện đọc hiểu văn.

 

2. Chọn thông tin quan trọng nhất trong đoạn văn bài văn

- Dựa trên kết quả đọc hiểu từ ngữ câu đoạn GV hướng dẫn HS nhận ra đâu là thông tin quan trọng nhất. Thông tin quan trọng nhất trong bài văn có thể nằm ở các câu then chốt. GV hướng dẫn HS nắm bắt các câu then chốt trong bài văn. Đó có thể là:

+ Câu đầu trong đoạn văn

+ Câu trung tâm biểu đạt tư tưởng của bài văn

+ Các câu chuyển mạch chuyển ý

+ Ngoài ra còn nắm bắt các mâu thuẫn câu biểu cảm câu điển nhãn câu đặc thù câu kết thúc… Các câu này làm hiện lên cái mạch tư duy diễn đạt của bài văn.

 

3. Phân tích quy nạp nội dung cơ bản của đoạn của bài

1) Tóm tắt thuật lại cốt truyện số phận nhân vật của một tác phẩm rồi khái quát nội dung tác phẩm. Tóm tắt các ý của các khổ thơ trong bài thơ rồi quy nạp nội dung tư tưởng của bài thơ.

2) Triển khai mở rộng thêm các ý khái quát trừu tượng trong bài làm cho nội dung tư tưởng của bài văn nổi bật thêm.

3) Vạch rõ cái ý tứ hàm ẩn trong bài mà tác giả không nói rõ ra.

4) Đồng thời cân nhắc việc dùng từ ngữ để khái quát cho chính xác.

5) Ngoài ra còn phân tích hình tượng phân tích chi tiết phân tích nhân vật phân tích bối cảnh v.v…

 

4. Phân tích quy nạp quan điểm tư tưởng của tác giả trong bài văn

1) Từ quan điểm chỉnh thể của bài văn mà phán đoán tránh khái quát từ cục bộ lấy bộ phận thay cho toàn thể.

2) Từ quan hệ với bối cảnh văn hoá xã hội mà phán đoán tư tưởng bài văn.

3) Nắm lấy câu then chốt của tác giả.

4) Cảm nhận từ người sự việc cảnh sắc lời trần thuật đặc biệt nắm bắt xung đột mâu thuẫn và kết cục.

 

5. Phân tích thưởng thức giá trị nghệ thuật của bài văn

1) Xây dựng hình tượng lựa chọn chi tiết.

2) Ngôn ngữ thi ca hay lời trần thuật.

3) Cách sử dụng các câu nghịch lí câu đặc thù.

4) Các phép kết cấu tăng cấp tương phản so sánh tương đồng các hình thức ví von liên tưởng…


 

* Mô hình của GS. Nguyễn Thanh Hùng


Từ luận điểm về “đọc hiểu TPVC là phân tích  lí giải mối quan hệ hữu cơ giữa ba tầng cấu trúc của TP (“Đó là cấu trúc ngôn ngữ kết dệt nên bức tranh hiện thực xã hội. Cấu trúc hình tượng dựng nên hiện thực giả định mang tính thẩm mĩ và cấu trúc ý nghĩa như là thế giới hiện thực tư tưởng”) và tìm ra sự quy chiếu giá trị riêng của nó” GS. Nguyễn Thanh Hùng đã đưa ví dụ minh họa đọc hiểu:

 

Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều

                                      (Nguyễn Du)

Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.


1. Đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn từ
- Lớp từ đài các tạo nên những hình ảnh ước lệ của văn học trung đại với vẻ đẹp trong nỗi buồn chia li cổ điển. Đó là nỗi buồn tâm trạng người đưa tiễn. Khung cảnh dường như cũng chịu áp lực của nỗi buồn thương ấy mà đổi sắc biến hình mà chia sẻ cùng con người.
- Hai dòng thơ ngắn ngủi nhưng lại hàm chứa cái nhìn của hình tượng tác giả Nguyễn Du. Một cái nhìn cảm thương và cảm phục mến yêu nàng Kiều hình tượng nghệ thuật trung tâm của tác phẩm.

“Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi”
- Đoạn trích “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” xuất hiện ba đại từ phiếm chỉ: “người” “kẻ” “ai”.
Có vấn đề cần cắt nghĩa là từ “người” và “kẻ” không phân biệt để chí cố định cho Kiều hay Thúc Sinh mà là cả hai. Vì sao? Bao nhiêu phương án có thể giải thích cho điều đó.
+ Phương án một: Đây là hiện thực ước lệ không cần cụ thể rành mạch.
+ Phương án hai: Đây là điểm nhìn của tác giả - xem “người” và “kẻ” đều là đối tượng cảm thương của cuộc chia li bất đắc dĩ. Trong cảnh tiễn đưa tác giả muốn dành trọng điểm tâm lí cho người đi (Thúc Sinh). Cảnh trở về trung tâm chú ý của cái nhìn thương cảm của Nguyễn Du lại dành cho Thúy Kiều.
Trong trường hợp cụ thể này “người” và “kẻ” chỉ có ý nghĩa chính phụ.
+ Phương án ba: Sự “lẫn lộn” vai trò “người” và “kẻ” trong đoạn trích này biểu đạt sự quyến luyến sự đeo mang ấp ủ hình ảnh của nhau khi đang là một đã biến thành hai. Nó nhất quán với hình tượng chung của đoạn trích là sự “tan xé” được biểu hiện trong từng dòng thơ trong từng cặp câu đối xứng chia đều sự xót xa.

Cách đọc: Đọc chú trọng câu chữ và những nghịch lí trong dùng từ ngẫu nội bộ dòng câu đoạn khổ thơ. Nhịp điệu cũng cần ngắt trong khi đọc cho phù hợp với sự sáng tạo của thể thơ lục bát.
Nhịp điệu có chiều hướng kéo dài ở phần cuối dòng cuối câu thơ tạo hiệu quả nặng nề trong tâm tư nhân vật.

 

2. Đọc hiểu tầng cấu trúc hình tượng thẩm mĩ
- Đọc dựa vào và nhấn mạnh đặc điểm riêng của kết cấu nghệ thuật. Cần lưu ý hai cảnh “đi” và “về” chỉ là sự vận động mà không có hoạt động của hai nhân vật lặng câm. Một không khí ngột ngạt nặng nề.
Cảnh tiễn đưa với hình ảnh người đi là chính (“người” = Thúc Sinh) nhưng lại lặng lẽ hơn câm nín cả trong thế giới tâm hồn. Thúc Sinh lặng lẽ tê dại hay vô tình hay lo lắng phận sự của một thư sinh dại và dát? hay là hễ chia li thì dù kim hay cổ đều không nói lên lời.
Dù sao trong đoạn trích này người đi (Thúc Sinh) vẫn được trong sự ấm áp của ảnh người đưa tiễn.
Cảnh trở về lẻ loi cô đơn hơn. Nếu cảnh trên còn có người cảnh sau chỉ có bóng.
Hình ảnh người về đeo mang nỗi buồn thương nặng trĩu hơn. Ngoài buồn cho mình Kiều còn “đeo sầu” cho cả Thúc Sinh cả lo lắng mong nhớ lưu luyến cám cảnh cho người ra đi nữa: Hãy để ý con mắt có tình đang dõi theo Thúc Sinh “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh”. Cái nhìn theo trông ngóng ấy diễn ra rất lâu: “đã khuất mấy ngàn dâu xanh”. Đặc biệt hơn giữa hai cảnh ấy Kiều đã đứng lại bên rừng phong thu rất lâu để đem nỗi sầu li vào đêm vắng với sự chứng kiến đau đớn của vầng trăng:

“Người về chiếc bóng năm canh”

và  “Vầng trăng ai xẻ làm đôi”
Đặc điểm của cảnh trở về là nàng Kiều không chỉ xót thương cho mình mà vẫn một mực cảm thương cho người đi với tấm lòng của người đàn bà tình nghĩa. Chí có một dòng thơ và cũng là dòng tâm sự của nhân vật trữ tình. Ba dòng thơ còn lại trong khổ thơ ít ỏi đều dành tình thương cho Thúc Sinh. Cảnh một là không gian rơi lệ. Cảnh hai là thời gian ngưng tụ xoáy sâu vào nỗi buồn tê tái không được giãi bày của Kiều. Không gian ở cảnh ra đi như giải thoát được nỗi buồn cho Thúc Sinh nhưng thời gian ở cảnh trở về một bóng chỉ là sự cầm tù nàng Kiều trong dằn vặt. Với đại từ “ai” trong “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” người đọc hiểu thế nào đây? Oán hận ông trời than trách số mệnh hay tiếng “kêu thương” của nhà nhân đạo lớn Nguyễn Du? Có thể nghĩ rằng đây là lời tự trách mình của nàng Kiều thương cảm mình thì ít xót đau cho tình cảnh chung cho Thúc Sinh thì nhiều. Nếu ta nhớ lại vì sao có cảnh chia li này được kể trong đoạn trước của tác phẩm thì phải chăng nàng Kiều ân hận vì đã khuyên chàng Thúc? Kiểu ân hận như thế ở nàng Kiều không phải chỉ là một lần. Nó đã từng diễn ra với Kim Trọng Từ hải. Không thông minh nhất mực kiểu trời cho thì làm sao Kiều có thể biết đường mà ân hận! Đây lại là một nét đẹp khác trong tâm hồn nàng.
Tôi nghĩ vậy và hiểu vậy vì dòng thơ tiếp sau củng cố cho niềm tin ấy. Vầng trăng đầy đặn mối tình giữa hai người dù chưa đạt tới mức lí tưởng thì vẫn là ân nghĩa. Tự tay nàng xẻ cắt ra (“ai” là Kiều – là nhân xưng trách móc) cái đau thể xác cùng nỗi xót xa ân hận. Do đó chỉ có cách lại dùng chính bàn tay ấy trừng phạt chính mình như ôm riết lấy như in khắc vào tâm trí hằng đêm (nửa in gối chiếc) và mong sửa chữa cứu chuộc bằng nguyện ước đem nửa vầng trăng còn lại an ủi chia sẻ với nỗi vất vả dọc đường của Thúc Sinh. Thật kín đáo và cảm động biết bao với nỗi đau chia cắt tự mình gây ra nên chẳng những nàng nhận lấy hậu quả “hai mảnh đau thương” mà còn tự “giải phẫu” mình theo kiểu phân thân.
- Về cách đọc: Đọc chú ý sự trùng lặp của từ và cảnh đặc tả nỗi buồn chia li trong hai khổ thơ.
Đọc so sánh phân biệt tâm trạng của hai nhân vật Thúy Kiều và Thúc Sinh.
Đọc phát hiện dòng mạch tâm trạng trữ tình của nhân vật Kiều.
Đọc khắc họa nỗi đau được diễn tả trong biểu tượng “vầng trăng xẻ nửa”.
Đọc và phân tích tác dụng biểu hiện nghệ thuật của không gian và thời gian trong hai cảnh.

 

3. Đọc hiểu tầng tư tưởng thẩm mĩ
- Về sự tương hợp giữa hình tượng khách quan và hình tượng tác giả trong tác phẩm. Đặc điểm trữ tình câm lặng giấu biệt không nói nên lời trực tiếp về nỗi lo nỗi buồn nỗi nhớ nỗi thương tỏa vào không gian và thời gian lặng lẽ.
Đọc sao cho hiện rõ cảnh chia li độc đáo và có con mắt trữ tình của Nguyễn Du đang lựa chọn giãi bày đánh giá và thương yêu. Từ cảnh chia tay Kiều – Thúc mà nhận ra bao nỗi buồn thương trong “cõi người” cần được nói ra và cần được chia sẻ.

Đọc sao cho thấy được sự cảm thương về cuộc chia li cho dù đó là cuộc tiễn đưa đầy hi vọng và thấy rõ vẻ đẹp của nàng Kiều trong con mắt “thấu thị” của Nguyễn Du.
- Sức mạnh biểu đạt diễn tả hiện thực cuộc chia li trong đoạn trích là thị cảm đặc biệt là điểm nhìn trần thuật kết hợp giãi bày thái độ thẩm mĩ của Nguyễn Du đối với hiện thực miêu tả.
- Dù với mức độ khác nhau trong yêu thương đối với Kim Trọng Từ Hải và với Thúc Sinh nhưng điểm chung ở nàng Kiều vẫn là hình ảnh người phụ nữ Việt nam giàu yêu thương giàu vị tha và đức độ…
- Về cách đọc: Đọc thả tâm tư vào sự chói sáng của hình tượng nhân vật trung tâm. Đọc ra ý nghĩa thời đại lịch sử mà hình tượng biểu hiện và ý nghĩa thời đại ý nghĩa nhân loại nảy sinh từ hình tượng nghệ thuật. Nói cách khác đọc để có thể ghi lại ở hình tượng nghệ thuật trung tâm các quan hệ con người tính chất của thời đại những tình cảm quan điểm khát vọng của con người và tạo ra sức mạnh tác động giáo dục nghệ thuật đến người đọc.