HỘI CHỨNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

HỘI CHỨNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC                                                                      GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng

Nguồn: Tạp chí Giáo dục số 171 (kì 1- 9/2007)


1. "So với ông Bành vẫn thiếu niên"

Dân gian xem ông Bành là Bành Tổ cội nguồn quá xa quá lớn của một thời khai thiên lập địa. Nguồn của mọi nguồn. Quả là quá khứ đè nặng lên vai của những thế hệ hậu sinh. "Hậu sinh khả úy" trước hết là sự đánh giá lạc quan về tuổi trẻ phần lớn thể hiện sự mong chờ nhiều hơn là bằng chứng hiện thực. Vài thập niên này nền giáo dục (GD) nước nhà đăng đàn diễn thuyết và xoay xở khá rầm rộ về đổi mới phương pháp dạy học (PPDH). Càng đi trên lộ trình đổi mới ấy càng thấy con đường như cứ dài ra chẳng biết bao giờ có thể xem là điểm dừng và khẳng định được thành tựu cho nhất trí và thuyết phục. Lí do chính yếu là ở chỗ nền GD nước nhà thiếu những học giả đích thực về lĩnh vực này. Đó là những người tài năng thật sự được hun đúc trong những thành tựu lí luận và thực tiễn về PPDH đã trở thành truyền thống và đạt tới tính chất cổ điển. Nói tính cổ điển của một lĩnh vực là khẳng định sự đóng góp vào trí tuệ nhân loại. Đó là sự thể hiện tư tưởng khả năng quan sát đúc kết lí luận và thực tiễn một cách sáng tạo bằng hình thức khoáng đạt và hợp lí mới mẻ và mực thước được những thế hệ mai sau tiếp nhận dễ dàng. Đồng thời những học giả ấy cũng phải rất nhạy bén với những thành tựu hiện đại trong lĩnh vực chuyên sâu của mình để có sự lựa chọn phù hợp đích đáng và hiệu quả khi vận dụng PPDH ở Việt Nam hiện nay. Sau nữa là vì tính chất chắp vá thiếu đồng bộ thiếu triệt để về lí thuyết cũng như về tình trạng thiếu đạo đức khoa học trong quan hệ giữa cá nhân với nhau giữa người tài với cơ quan hữu trách.

Cuối cùng là kiểu tư duy cho xong việc cho được việc bằng mọi cách mọi giá đang là lối ứng xử phổ biến hiện nay được ngụy trang dưới cái tên mĩ miều "giải pháp tình thế". Có quyền có tiền có thời gian mà vẫn ậm ạch phải chăng nền GD của ta thiếu tầm nhìn và sự kiên trì kinh nghiệm thực tiễn. Điều đó cần thấm thía vào từng cá nhân trong tập thể trách nhiệm lớn nhỏ đang vận hành với những giá trị mà phần nhiều là giá trị ảo. Ông Bành không phải là Xô cơ rát hay Khổng Phu Tử cũng chưa hẳn là Comenski hay Chu Văn An mà là kho tàng tri thức Cổ Kim Đông Tây được chắt lọc làm nên nội lực (immanence) của các nhà PP. So với ông Bành Tổ vẫn thiếu niên được hiểu theo nghĩa mới ở chỗ PPDH Việt Nam phải tận thu có phê phán di sản cổ điển đồng thời biết chắt lọc tinh hoa PPDH hiện đại. Chính sự cộng sinh (symbiose) giữa cổ điển và hiện đại sẽ tạo nên một giải tạo luận (de construction) làm cơ sở cho việc triển khai PP và các cấp độ xa gần trước sau của PPDH. Khoa học PP còn rất trẻ bởi sức sống hiện đại ấy được nuôi dưỡng trong bối cảnh tri thức khoa học liên ngành đang phát triển cả về bề rộng và chiều sâu của nó.

Thiếu những điều vừa nói là thiếu năng lực suy nghĩ độc lập trên sự giàu có về tri thức và sự phong phú của thông tin cũng tức là còn ở trình độ trẻ con. Đã là trẻ con thì tương lai chỉ còn là niềm hi vọng ở phía trước của một thế hệ các nhà PP sẽ trưởng thành. Vì vậy tiêu đề trên tuyệt nhiên không ám chỉ sự sùng bái mê muội và niềm tin dễ dãi vào quá khứ và truyền thống như những đỉnh cao mà chúng ta mãi không thể nào sánh được.

2. Triết lí của PPDH

Có thể hiểu triết lí là sự yêu thích trí tuệ là sự hiếu biện làm động lực cho việc xây dựng nền tảng lí luận của PP. Triết lí của PPDH trước hết cần dựa vào sự phân tích nội dung của các định nghĩa đã có về thuật ngữ PP giảng dạy. Thường thì định nghĩa mang nặng nghĩa từ nguyên. Định nghĩa ấy mang tính võ đoán và quy ước chứ không thể xem định nghĩa tuyệt đối đúng và bất di bất dịch. Định nghĩa một khái niệm khoa học bao giờ cũng nên là sự tổng hợp tri thức của các loại từ điển: từ điển phổ thông từ điển giải nghĩa từ điển bách khoa từ điển chuyên ngành từ điển thuật ngữ tiếng nước ngoài.

Có nhiều cách tiếp cận triết lí của PPDH. Nếu nói đơn giản có cách tiếp cận khách quan thiên về hệ thống lí luận về PPDH theo tiến trình lịch sử rồi tìm ra nội dung nhân lõi được các giai đoạn phát triển GD chấp nhận. Đây là một hằng số lịch sử làm cơ sở cho triết lí PP. Cách tiếp cận thứ hai là thực hiện sự thể hội (lĩnh hội và thể nghiệm) dựa vào năng lực thấu cảm (sympathy) của từng cá nhân đã tiếp thu thành tựu của lí luận PP với tư cách như kết quả chọn lựa và khẳng định của lịch sử luôn kế thừa và phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại đối với nền GD. Tính chủ thể của cách tiếp cận này làm cho màu sắc hàn lâm nhạt đi và tăng thêm tính thực dụng và sáng tạo trong những tình huống dạy học mới. Suy cho cùng khoa học PP là khoa học vận dụng sáng tạo PP trong những bối cảnh tri thức và tình huống dạy học khác nhau mà thôi. Đương nhiên càng có những điểm nhìn lí luận phong phú sát hợp thì quá trình vận dụng PP càng cụ thể và toàn diện hơn trước đó.

Nghiên cứu PPDH nên phân biệt với PP khoa học. PP luận nghiên cứu văn học thuộc về PP khoa học. PPDH Ngữ văn thuộc về PP sư phạm. Theo triết lí phân loại và phân cực triệt để thì lí luận DH quyết định PPDH và PP bộ môn. Họ tin vào những giá trị tuyệt đối của kiến thức vào đường ranh giới giữa các khoa học không thể vượt qua vào điểm xuất phát "chân không" của kiến thức của người học. Xuất phát điểm của tư tưởng ấy có nhược điểm là đã không thấy con người ta sinh ra đều bình đẳng về giống loài và phải được đảm bảo về quyền lợi. Đứa trẻ cùng là một con người. Sự trưởng thành sẽ là kết quả tất yếu nếu nó được sống trong một xã hội văn minh văn hóa. Bản chất con người sẽ được thay đổi liên tục trong môi trường sống do vậy không có những tri thức và chân lí vĩnh viễn. Trẻ em được học là niềm vui của một loại lao động mà họ cảm nhận được sự chiến thắng đối với bóng tối dăng mắc khắp nơi và trước hết là ở trong chính bản thân mình. Được học sẽ là hạnh phúc hơn gấp nhiều lần là được dạy và bị dạy.

Cuộc sống là một chỉnh thể toàn vẹn và là một quá trình cải hóa không ngừng. Lí thuyết về gia tốc phát triển và những đặc điểm siêu việt của bộ não thuộc giai đoạn đầu đời này rất đặc biệt. Không biết tận dụng điều này thì dù có khôn lớn bao nhiêu cũng không bù đắp nổi sự mất mát khôn lường hết được. Đây là giai đoạn "pháo hoa" trong trí năng của các em. Những tính trội về sự phát hiện sự điều tiết sự nhạy cảm của sức trẻ tự phát lộ biểu hiện ra chỉnh lí tái hợp lại một cách năng sản (ertrag) làm nên sự kì diệu của trí khôn học đường. Bộ óc không chỉ là kho lưu trữ kiến thức mà còn là công cụ vạn năng của hành động. PPDH phải phát động tư duy tối ưu trong trí óc bao gồm trí tuệ duy lí và trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence).

Tư tưởng giáo dục và PPDH tiến bộ bao giờ cũng lấy bản thân mình làm gốc. Trông cậy ở mình tự tin ở mình tự xét lấy mình. Quan điểm đề cao việc "tự xét lấy mình" và sự tự giác trong hành vi nhận thức thế giới trước hết để cải tạo mình rồi sau đó mới có cái gì đó nơi mình như là bản lĩnh và năng lực thì mới cải tạo được thế giới. Điều này xét về một phương diện nào đó lại có cùng chung nhân tố cốt yếu của tinh thần độc lập tự chủ năng động và sáng tạo của cá nhân trong hành động học tập. Hành động học tập hiện đại không chỉ giới hạn trong việc hình thành và phát triển trí năng lí tính của học sinh mà bao gồm cả việc phát huy trí tuệ trái tim. Lev Tolstoi viết: "Trí tuệ của trí tuệ thì luẩn quẩn còn trí tuệ của trái tim thì sáng láng". Thực chất PPDH có hiệu quả phải tác động hài hòa vào trí tuệ duy lí và trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence).

Phải từng bước xác lập lại các cấp độ nội dung và hình thức trong hoạt động DH một cách rành mạch.

Một số công trình khoa học thường đề ra một hệ thống triển khai lí luận DH như sau: triết lí GD – triết học GD – lí luận về quá trình GD – các sản phẩm GD. Một hệ thống khác nhỏ hơn về DH thì quan tâm đến triết lí – tiếp cận – PP – kĩ thuật…

Theo tôi muốn xác lập triết lí PPDH phải tìm ra yếu tố nhỏ nhất tạo nên cấu trúc vững bền làm tiền đề phát triển của đối tượng nghiên cứu. PPDH cũng cần được xem xét như thế như thuyết đơn tử và thuyết đơn bào trong khoa học tự nhiên. Để có hình đa diện người ta phải bắt đầu từ hình tam giác. Hình tam giác chính là yếu tố cấu thành nhỏ nhất của hình đa diện. Đối với PPDH cũng vậy người nghiên cứu có thể dựa vào các cách tiếp cận (Approach-Begegnung) như đã trình bày. Cần hiểu rằng yếu tố cấu tạo bền vững của PP là con đường. Từ định nghĩa cổ đại đến định nghĩa của Hêghen về PP đều giữ lại yếu tố con đường như một tinh thể chủ yếu không thể phá vỡ. "PP là con đường tiếp cận hình thức tồn tại của nội dung" (Hêghen). Thời cổ đại người ta dùng thuật ngữ metodos để chỉ PP. "Odos" có nghĩa là con đường "met" có hàm nghĩa là đi tới. Con đường trừu tượng trong triết học Trung Hoa gọi là "đạo". Đạo là con đường ở đó sự sống có thể sống được (viable) mọi sự rồi thì qua được chỗ đi tới của đạo là ở sự đổi mới của bản thân nó. Tức là PP không phá vỡ sự sống sinh động của môn học. Mọi khó khăn về nhận thức cũng sẽ được vượt qua. Đi mãi sẽ tạo ra con đường mới hơn để hiểu sâu và đề xuất thêm PP mới. Đó là đặc điểm bản chất của PP.

Ngoài yếu tố cứng rắn là “con đường” ra PP dạy học còn chứa đựng mối quan hệ tương tác giữa hoạt động dạy và học. Biểu hiện rõ nhất và cơ bản nhất của hoạt động dạy là tạo nên hoạt động học. Lí luận dạy học hiện đại coi đó là một phương trình cần giải. Những lời giải đó là: - Hoạt động dạy là điều kiện hình thành hoạt động học; - Quá trình học định hướng cho hoạt động dạy; - PPDH là một phần của năng lực PP; - Năng lực PP là năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập…

Không đảm bảo được mối quan hệ tương tác giữa dạy và học trong quá trình lên lớp được kiểm soát trực tiếp và liên tục mà nghiêng sang phía học hay phía dạy chỉ có thể xem đó là hình thức DH mà thôi. Vì vậy thuyết trình thuyết giảng và tự học chưa hẳn là PP đúng nghĩa theo quan niệm của chúng tôi.

Dạy học toàn lớp dạy học theo nhóm dạy học cá nhân chỉ nên xem là hình thức DH chứ chưa phải là PP đích thực. Cơ sở triết lí của việc xác định PPDH là: - Cơ sở lí luận của PP; - Nội dung và bản chất của PP; - Quy trình thực hiện và những phương án; - Những lời khuyên chính đáng đối với GV …

Từ những hình thức DH có thể suy nghĩ và vận dụng những PP nào đấy. Ví dụ từ hình thức DH cả lớp có thể vận dụng PP phát hiện và GQVĐ. Hình thức DH theo nhóm có thể vận dụng PP thảo luận (Diskussion) PP bàn tròn (Kugellager). Từ hình thức DH cá nhân có thể sử dụng hình thức DH phân hóa PP báo cáo đề dẫn (Impusreferat) và PP nghiên cứu.

Hiện  nay chúng ta đang sử dụng rất nhiều PPDH với những hệ thống rất khác nhau mà không luận chứng về cơ sở lí luận của nó cũng như tính cố kết thành hệ thống giữa chúng theo một triết lí nhất định. Đây là nội dung khoa học  không dễ dàng giải quyết được ngay và cũng không có sự đồng thuận (consensus). Theo tôi muốn để cho PPDH truyền thống và PPDH hiện đại có thể dung hợp với nhau cần vận dụng phối hợp (Kombination) yếu tố tích cực của các PP gần gũi với nhau về nội dung và phù hợp với đặc trưng môn học. Có thể vận dụng tính biện chứng của phương Tây và sự minh triết của phương Đông để hình thành và phát triển triết lí DH.

Có thể nói giữa tính biện chứng và sự minh triết có chung sự điều tiết mối quan hệ trong tổng thể để không xem nhẹ và đánh mất các yếu tố hình thành đối tượng trong quá trình vận động.

3. Giải phiền hội chứng PPDH

Mượn lối nói quá khích như “hội chứng” PPDH để nhấn mạnh hai điều. Một là PP là vấn đề nổi lên hàng đầu trong thời đại bùng nổ thông tin. Không có PP không thể tích lũy và vận dụng khối lượng kiến thức khổng lồ của thời đại vào cuộc sống. PPDH còn là con đường tích hợp đa chiều đa ngành của tri thức và khả năng hành động. Hai là không thể quá đề cao vai trò quyết định của PP  rồi bịa đặt ra rất nhiều PP tùy ý mà chính người đề xuất cũng khó lòng làm chủ và kiểm soát nổi tác dụng trái chiều tốt xấu của nó. Ngoài những PP chúng ta đã biết còn xuất hiện trên thế giới những PP chớp lóe PP tưởng tượng với sự vật PP vét cạn (method of exhaustion) khá lạ tai.

Muốn giải phiền hội chứng PPDH hiện nay phải lựa chọn hoặc đề xuất mới một hệ thống PPDH thỏa mãn triết lí của PP như đã trình bày phù hợp với tất cả các môn học trong nhà trường phổ thông. Có thể xem đó là PPDH cơ bản từ đó vận dụng cụ thể sáng tạo vào các môn học theo đặc trưng của nó và bổ sung thêm những PP mới. Đây là các PPDH đặc thù. Đồng thời phải nghĩ tới khả năng vận dụng phối hợp các PP gần gũi để giảm bớt số lượng PPDH tránh sự trùng lặp hoặc không thật tách bạch giữa chúng.

Cuối cùng xuất phát từ tư tưởng cách mạng trong học tập như học tập suốt đời quá trình dạy học là cơ hội thầy trò cùng được học học tập như là sự mạo hiểm của nhóm (Lernen als Abenteuer einer Gruppe) học bằng thế giới tưởng tượng… sẽ cuốn theo và tác động vào cuộc cách mạng dạy học mà việc đầu tiên phải làm là xây dựng lại triết lí PPDH cơ bản và PPDH đặc thù có sức sống lâu dài trong quá trình đổi mới nội dung và PPDH ở nhà trường phổ thông./.