VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG

"Độc Tiểu Thanh kí" - tư liệu và hướng nghiên cứu

(tiếp theo)

III/ Độc điếu song tiền nhất chỉ thư

1. “Nhất chỉ thư” là gì ?

Câu Độc điếu song tiền nhất chỉ thư được dịch như sau:
- Trước song một mình viếng một tập giấy (bản Bùi kỉ 1959 tr.69).

- Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ (bản Lê Thước 1965 tr.162 Đào Duy Anh 1988 tr.173).

- Riêng ta viếng khóc tập sách trước cửa sổ (Trần Danh Đạt Sđd tr.43).

- Một mình nhớ tới nàng qua một tờ giấy chép truyện (Trần Đình Sử tr.222).

- Trước song cửa sổ ta một mình ngồi viết bài thơ này để điếu nàng trên một tờ giấy (Nguyễn Quảng Tuân Sđd tr.45).

Ở đây có ba cách hiểu: Một là viếng tập giấy viếng khóc tập sách nghĩa là viếng tác phẩm viết về Tiểu Thanh; hai là viếng qua một tập sách một tờ giấy chép truyện nghĩa là viếng qua tác phẩm viết về Tiểu Thanh; ba là viết bài thơ này để điếu nàng nghĩa là điếu bằng bài Độc Tiểu Thanh kí. Và như vậy “nhất chỉ thư” được hiểu theo hai nghĩa: truyện về Tiểu Thanh và bài Độc Tiểu Thanh kí.

Chúng tôi nghiêng về cách hiểu của ông Nguyễn Quảng Tuân.

“Điếu” là động từ giữ chức năng vị ngữ trong câu. Là động từ “điếu” vừa có bổ ngữ trực tiếp (điếu ai) vừa có bổ ngữ gián tiếp (điếu bằng cái gì). Rõ ràng không thể điếu tập truyện như ông Trần Danh Đạt đã dịch. Do đó chỉ còn điếu qua tập truyện Tiểu Thanh và điếu qua bài thơ khóc Tiểu Thanh. Muốn chọn phương án nào trong hai cách hiểu trên theo chúng tôi cần hiểu “nhất chỉ thư” là gì.

Thực ra “nhất chỉ thư” không chỉ là một tờ giấy có chữ viết mà là tờ giấy có chữ do chính tay mình viết. Nếu vậy không thể hiểu đấy là tác phẩm về Tiểu Thanh. Một điều nữa chúng tôi hết sức băn khoăn rằng chẳng biết Nguyễn Du có dùng điển tích “nhất chỉ thư” hay ngẫu nhiên trùng với điển tích đó. Xin nêu ra để bạn đọc tham khảo. “Nhất chỉ thư” là một điển về Lưu Hoằng (236-306) rút từ Tấn thư dùng để chỉ sự tâm huyết công minh của người tự tay viết “nhất chỉ thư” dâng lên bề trên. Người dân bấy giờ có câu: “được “nhất chỉ thư” của Lưu công hơn được tiến cử làm quan trong thập bộ”. Nguyễn Du đã ví bài Độc Tiểu Thanh kí của mình như biểu dâng lên Tấn Huệ đế của Lưu Hoằng(23)? Nếu đúng như vậy qua điển “nhất chỉ thư” Nguyễn Du muốn bày tỏ rằng ông thấu hiểu nỗi lòng Tiểu Thanh và ông cũng chẳng giấu điều đó: “ngã tự cư”!

2. “Song tiền”.

Về chữ “song tiền” là trước cửa sổ. Nhưng cửa sổ nào? Cửa sổ nhà Tiểu Thanh ở Cô Sơn Hàng Châu hay cửa sổ nhà Nguyễn Du tại Việt Nam?

Như trên kia đã trình bày Nguyễn Du viết Độc Tiểu Thanh kí khi chưa đi sứ do đó ông không thể đến trước cửa sổ nhà Tiểu Thanh đọc bài thơ của mình được. Song nếu Nguyễn Du điếu Tiểu Thanh ở trước cửa sổ nhà mình thì nghe ra lại khiên cưỡng.

Xin hãy trở lại Di tích về nỗi hận ở gò mai. Trong văn bản có hai chi tiết đáng chú ý: Một là khi Tiểu Thanh còn sống tác giả kể: “tuy cảnh núi sông (ở Cô Sơn) tươi đẹp (Tiểu Thanh) cũng không dám hé cửa sổ ngắm nhìn”; hai là sau khi Tiểu Thanh qua đời Lưu Vô Mộng – bạn của Phùng sinh “qua gò mai trong cửa sổ thêu nơi Tiểu Thanh nằm tìm thấy một mảnh giấy tàn có ba câu của bài từ điệu Nam hương tử…”. Như vậy trong cửa sổ là thế giới của Tiểu Thanh – nơi nàng ở và qua đời còn ngoài cửa sổ - song tiền thế giới của nhân gian của Lưu Vô Mộng của Nguyễn Du của chúng ta… Nguyễn Du điếu nàng bằng “nhất chỉ thư” tại song tiền – thế giới những người đang sống. Đấy là nghĩa thứ nhất. Thứ hai chẳng rõ có phải ngẫu nhiên không nhưng về Tiểu Thanh có truyện của Tiên Tiên cư sĩ trong Lục song nữ sử tác phẩm ra đời vào thời Minh. “Lục song” là cửa sổ xanh nơi ở của con gái sau dùng để chỉ chỗ đàn bà sinh sống. Vả chăng thơ ca luôn mang tính ước lệ.

IV/ Chi phấn hữu thần… Văn chương vô mệnh…

Hai câu này không phức tạp lắm.

1. “Chi phấn” - đồ trang sức của phụ nữ sau dùng để chỉ giới nữ lưu nói chung. “Thần” là thần thái thần sắc ở đây chỉ nhan sắc tài hoa và trí tuệ của Tiểu Thanh. Trong tác phẩm của mình Mặc lãng tử luôn nhấn mạnh đến thần thái Tiểu Thanh tươi đẹp. Khi mới 10 tuổi nàng đã mục tú mi thanh thông tuệ khác thường. Năm nàng 16 tuổi Phùng sinh mới gặp đã siêu lòng. Về tới nhà chồng mặc dù nàng đã “cúi đầu hạ dọng cung kính không dám lộ vẻ phong lưu vậy mà phong thái kiều diễm của Tiểu Thanh càng giấu lại càng rực rỡ”. Trước mặt vợ Phùng sinh Dương phu nhân vẫn thẳng thắn nhận xét Tiểu Thanh là “một cô gái tốt! Mi thanh mục tú ôn hòa nhã nhặn khác thường chẳng sánh bậc tao nhân mặc khách thì cũng là người ở chốn kim mã ngọc đường”. Lúc Tiểu Thanh qua đời Mặc lãng tử từng thốt lên: “Người đẹp như  ngọc mà mệnh mỏng như mây; nhị quỳnh ưu đàm nhân gian có một”. Đặc biệt bức vẽ thứ ba Mặc lãng tử nhận xét: “cực kì phong nhã”. Tác giả Dương Châu mĩ nữ còn miêu tả bức vẽ thứ ba hấp dẫn hơn nhiều: “hoạ s­ư đề nghị Phùng Tiểu Thanh không cần ngồi nghiêm nghị mà cứ nói cư­ời đi lại nằm ngồi bình thư­ờng còn tình cảm buồn vui oán giận thì cứ để chúng tùy theo cảm hứng tự nhiên hà tất phải cố ý tạo dựng. Tiểu Thanh lĩnh hội ý của hoạ sư­ bèn không ngồi cứng nhắc như­ tr­ước mà cứ hoạt động bình thường. Lúc thì nàng cùng bà hầu chuyện trò cư­ời nói lúc lại quạt lò pha trà lúc đùa chơi với chim anh vũ hoặc quay sang đọc thơ xem sách hoặc đi lại dư­ới gốc mai... Qua từng cử chỉ từng cái nhăn mày đến điệu cư­ời tiếng nói của Tiểu Thanh… họa sư­ đã nắm bắt đư­ợc thần thái cốt cách của nàng. Quan sát như­ vậy mất ba ngày sau đó lại mất một ngày pha mầu rồi mới vẽ. Trong bức vẽ này Tiểu Thanh dựa cây mai một cách tự nhiên sống động như­ thật dư­ờng như­ có thể gọi nàng bư­ớc ra khỏi tranh”. Cái sắc thái sinh động có thần của Tiểu Thanh đã đi vào bức họa biến bức họa vốn vô tri vô giác thành con người sống thực làm liên can đến việc sau khi nàng qua đời: bức họa bị đốt! Nếu Tiểu Thanh không có cốt cách không có tâm hồn không có thần thì sau khi nàng đã qua đời không thể khiến cho bức vẽ về nàng bị đốt. Văn chương nào phải đâu là sinh mệnh sống mà bị lụy khiến chúng thành tro?

2. Phần dư

“Phần dư” là phần (thơ từ) còn lại không bị đốt chứ không phải “tập thơ bị đốt còn sót lại” hoặc “đốt dở … phần đốt còn sót lại”. Giải thích như vậy dễ làm người đọc hiểu nhầm. Tuy nhiên điều đáng nói là chỉ truyện về Tiểu Thanh trong Ngu Sơ tân chí trong Tình sử và trong Dương châu mĩ nữ mới nói tới Phần dư hoặc Phần dư cảo còn trong Tây Hồ giai thoại Lục song nữ sử không có chi tiết này.

Sẽ giải thích như thế nào về hiện tượng trên khi cho rằng Nguyễn Du dựa trên Tây Hồ giai thoại Lục song nữ sử để viết Độc Tiểu Thanh kí? Vậy có cái gọi là Tiểu Thanh kí không?

V/ Nhan đề bài thơ

Từ đầu đến giờ chúng tôi luôn chứng minh rằng viết Độc Tiểu Thanh kí Nguyễn Du dựa trên cơ sở đọc Tây Hồ giai thoại Lục song nữ sử… Nhưng kết luận như vậy sẽ không lí giải được câu “lụy Phần dư” vì Phần dư chỉ có trong Tiểu Thanh truyện. Để xử lí hiện tượng này ta hãy xem chữ “kí” có những nghĩa gì?

“Kí” có ít nhất ba nghĩa. Một là tương đương với khái niệm “truyện” như Bích Câu kì ngộ kí; hai là thể kí văn học như Công dư tiệp kí; ba là ghi chép. Bây giờ ta dùng phép loại trừ để xem Nguyễn Du dùng nghĩa nào.

Thứ nhất trong Ngu Sơ tân chí và Tình sử đã có Tiểu Thanh truyện. Bởi vậy Nguyễn Du không thể thay khái niệm truyện bằng kí được. Thứ hai nếu Nguyễn Du dùng kí với ý nghĩa là thể kí văn học thì trong thư tịch Trung Hoa ắt phải có tác phẩm kí viết về Tiểu Thanh. Song chúng tôi đã tra tìm tất cả các danh mục tác phẩm viết về Tiểu Thanh nhưng chẳng có văn bản nào đề là Tiểu Thanh kí cả. Vậy chỉ còn một nghĩa thứ ba: ghi chép. Qua những tư liệu chúng tôi đã trình bày trên kia chiếu ứng vào nội dung bài Độc Tiểu Thanh kí ta thấy Nguyễn Du đã đọc một số văn bản viết về Tiểu Thanh như Tây Hồ giai thoại Lục song nữ sử Ngu Sơ tân chí Tình sử… Điều đó cũng có nghĩa kí là ghi chép Nguyễn Du ghi lại cảm xúc khi đọc một số tài liệu chủ yếu là Tây Hồ giai thoại để viết Độc Tiểu Thanh kí. Do đó Độc Tiểu Thanh kí là đọc những ghi chép về Tiểu Thanh.

Truy tìm tư liệu về Tiểu Thanh là một trong những hướng đi có triển vọng để tiếp cận bài Độc Tiểu Thanh kí. Công việc ấy cần sự đóng góp của nhiều người còn chúng tôi chỉ nối bước những nhà nghiên cứu đi trước như  Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi Nguyễn Quảng Tuân…

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói là nhân vật Phùng Tiểu Thanh liên quan đến Kim Vân Kiều truyện. Mở đầu hồi một của Kim Vân Kiều truyện trong Lời bình tác giả không dư­ới 7 lần nhắc tới Phùng Tiểu Thanh và nhấn mạnh rằng chính cuộc đời đáng thư­ơng đáng xót của nàng đã cảm động đến các tao nhân mặc khách… khiến họ phải vì nàng mà thở than mà thư­ơng xót...; vì nàng mà “khắc in văn tập viết truyện truyền kì lư­u truyền bất hủ”(24). Cuộc đời Phùng Tiểu Thanh đã bi thảm số phận Vư­ơng Thuý Kiều còn bi thảm hơn. Tác giả Lời bình nhận xét Vư­ơng Thuý Kiều “tài sắc chẳng kém Tiểu Thanh mà bị đoạ đầy còn hơn Tiểu Thanh đủ để ngàn năm sánh cùng Tiểu Thanh vậy”(25). Nguyễn Du dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để sáng tác Đoạn trư­ờng tân thanh. Do đó khi viết Đoạn trư­ờng tân thanh Nguyễn Du hẳn là phải biết tới đoạn văn chúng tôi vừa trích và khi đã biết chắc Nguyễn Du chẳng thể bỏ qua câu chuyện về cô gái có tên là Phùng Tiểu Thanh. Cho nên nghiên cứu về Tiểu Thanh không chỉ giúp ta hiểu bài Độc Tiểu Thanh kí mà còn giúp ta biết chính xác hơn thời điểm ra đời Đoạn trư­ờng tân thanh. Tuy nhiên trong bài viết này chủ yếu trên cơ sở cung cấp một số tư­ liệu mới về Tiểu Thanh chúng tôi muốn đư­a ra những hướng kiến giải bài Độc Tiểu Thanh kí. Về thời điểm sáng tác Đoạn trư­ờng tân thanh cũng như khuynh hướng sáng tác Đoạn tr­ường tân thanh của Nguyễn Du xin trình bày trong dịp khác./.

                                                                                         Hà Nội 25/12/2005

__________________

(1) Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Bùi Kỉ Phan Võ Nguyễn Khắc Hanh dịch) Nxb Văn hóa H 1959 tr. 69.

(2) Văn 10 Nxb. Giáo dục H 1990.

(3 Trần Danh Đạt: Góp phần tìm hiểu thêm về nội dung bài “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du Tạp chí Hán Nôm số 1/1993.

(4) Nguyễn Đình Chú:

- Về lời dịch “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du) báo Văn nghệ số 24 ngày 12/6/1993;

- Lại bàn về hoàn cảnh sáng tác “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du Văn nghệ số 23 ngày 4/6/1994.

(5) Trần Đình Sử: Mấy điều suy nghĩ về bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du Văn nghệ số 28 ngày 10/7/1993. 

(6) Trương Chính: Lời giới thiệu sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du Nxb. Văn học H 1965 tr.14.

(7) (8) Nguyễn Quảng Tuân: Cần phải tìm hiểu chính xác hơn bài “Độc Tiểu Thanh kí”của Nguyễn Du Tạp chí Hán Nôm số 1/1994.

(9) Trần Đình Sử: “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du sách Những thế giới nghệ thuật thơ Nxb. Giáo dục H 1995.

(10) (11) Nguyễn Khắc Phi: Tiểu Thanh truyện (giới thiệu và dịch) Tạp chí Văn học nước ngoài số 5/1997.

(12) Từ hải. Trung Hoa Thư cục xuất bản xã súc ấn bản 1936; trùng ấn lần thứ nhất 1981 bản in lần thứ năm 1994 quyển Thượng tr.974 mục Tiểu Thanh.     

(13) Từ hải. Thượng Hải Từ thư xb xã Thượng Hải 1979 tr.362. Tái bản năm 1989 (tr.412) nội dung vẫn giữ nguyên.

(14) Phan Quang Đán: Phân tích  Tiểu Thanh Tân nguyệt Thư xã 1927.

(15) Nam Tề: tên triều đại của Trung Hoa những năm 480-502.

(16) Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Bùi Kỷ Phan Võ Nguyễn Khắc Hanh dịch). Sđd tr.161 và Đào Duy Anh: Thơ chữ Hán Nguyễn Du Nxb. Văn học H 1978 tr.172.

(17) Trần Đình Sử: Mấy điều suy nghĩ về bài thơ” Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du Sđd.

(18) Nguyễn Đình Chú: Lại bàn về… Bđd.

(19) Ngu Sơ: Ngu Sơ người Hà Nam thời Tây Hán từng viết Chu sử thông tục 943 thiên gọi là Chu thuyết. Trong Hán thư Ban Cố xếp Ngu Sơ vào hàng tiểu thuyết gia. Do đó người đời sau thường lấy 2 chữ Ngu Sơ tên tác giả Chu thuyết để gọi thay cho loại bút kí tiểu thuyết. Bởi vậy chữ Sơ phải viết hoa. Tiếc rằng một số nhà nghiên cứu không biết điều này để viết hoa chữ Sơ.

(20) Tiểu Thanh truyện Sđd.

(21) “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du Sđd.

(22) Hán ngữ đại từ điển Tập 12 Hán ngữ đại từ điển xã xb Thượng Hải 1993.

(23) Điển Lưu Hoằng cử người hiền tài tránh đề cử người thân thích như sau: “Thời Tấn Huệ đế (291-306) Lưu Hoằng làm Thứ sử Kinh Châu thấy thiếu các chức quan nắm mười bộ ở Kinh Châu xin nhà vua bổ dụng. Triều đình bổ Hạ Hầu Trắc - con rể của Hoằng làm Thái thú Tương Dương. Hoằng dậy Trắc rằng: Kẻ nắm đại thống thiên hạ phải một lòng với thiên hạ; kẻ đứng đầu một nước phải lấy cả nước làm trách nhiệm của mình. Nếu bổ dụng con rể thì Kinh Châu lấy đâu cho đủ 10 con rể?”. Bèn dâng biểu lên vua rằng: “Trắc là người thân theo chế độ trước (bố vợ) không được bổ nhiệm (con rể)”. Bèn cử Bì Sơ làm Thái thú Tương Dương. Vua hạ chiếu theo đề nghị của Hoằng. Tấn thư quyển 66.

(24) (25) Kim Vân Kiều truyện Tú Hoa Hiên tàng bản tờ 2a.

Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 6/2006