VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG

VỀ BA CHỮ NHẤT CHI MAI
TRONG BÀI CÁO TẬT THỊ CHÚNG 
CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ

 GS.
Nguyễn Khắc Phi

(…)

Hoa mai luôn được ca ngợi hoa mai nở sớm (tảo mai) lại càng được ca ngợi. Bàn đến hình tượng hoa mai trong Cáo tật thị chúng không thể không nhắc đến hai câu thơ sau đây trong bài Tảo mai của nhà thơ Tề Kỉ đời Đường:
       Tiền thôn thâm tuyết lí
       Tạc dạ nhất chi khai

(Thôn trước trong tuyết âm u

Đêm qua một nhành mai nở)

Sách Thực tân lục chép: “Nhà sư Tề Kỉ hay thơ. Một hôm đem thơ đến yết kiến Trịnh Cốc trong bài Tảo mai (Mai nở sớm) có câu: “Tiền thôn thâm tuyết lí Tạc dạ sổ chi khai”. Trịnh Cốc cười nói: “Sổ (một vài) thì chẳng phải là sớm nữa chẳng hay bằng nhất (một). Tề Kỉ sửng sốt cúi đầu bái tạ và gọi Trịnh Cốc là “nhất tự sư” (ông thầy dạy cho một chữ). Các nhà Hán học ai cũng biết câu chuyện thú vị đầy ý nghĩa ấy. Cần lưu ý thêm: Tề Kỉ cũng là một nhà sư. Cho nên ta có thể và cần so sánh câu thơ “đình tiền tạc dạ nhất chi mai” của Mãn Giác thiền sư và câu “tiền thôn… tạc dạ nhất chi khai” của Tề Kỉ. Ở Tề Kỉ là “nhất chi khai”. Không cần chữ “mai” vì đề thơ đã có. Ở Mãn Giác thiền sư sự tồn tại của chữ “mai” là rất quan trọng. Một phần vì ở đề thơ không có song quan trọng hơn là ý nghĩa tượng trưng của hoa mai (…). Ở Tề Kỉ “nhất chi khai” là một cụm chủ vị. Ở bài thơ của Mãn Giác trong câu thứ nhất có hai chữ “hoa khai” trong câu thứ hai có hai chữ “hoa lạc” (hoa rụng). Nếu câu cuối đặt chữ “khai” thì nhất định sẽ lại gợi cho người đọc nghĩ tới chữ “lạc” (rụng) như ở trên từ đó ý nghĩa tích cực của bài thơ của riêng câu kết nhất định sẽ giảm hẳn. Tỉnh lược là một thủ đoạn cú pháp được sử dụng rất phổ biến trong thơ cổ nếu dùng đúng chỗ sẽ tăng thêm sức biểu hiện. Lúc dịch nghĩa câu 5 của bài Cáo tật thị chúng các dịch giả thường thêm chữ “nở” cho rõ ý: “Đêm qua một nhành mai nở trước sân”. Người dịch quên rằng dịch thơ cổ - một loại thơ hàm súc – thêm chữ thường dẫn tới hậu quả là bớt nghĩa. “Nhất chi mai” chỉ là một cụm danh từ. Trong thơ cổ khi muốn gợi lên một dư âm lan tỏa một sự trường tồn các nhà thơ thường kết thúc bài thơ bằng một cụm danh ngữ.

(…)

Đây cũng vậy không nở mà cũng chẳng tàn. Mai là tượng trưng cho mùa xuân cho sự sống mùa xuân vĩnh hằng sự sống bất diệt! Bên cạnh vô vàn hình tượng “tảo mai” (mai nở sớm) trong văn học cổ điển Trung Quốc cũng xuất hiện không ít hình tượng “vãn mai” (mai nở muộn). (…) hoa mai trong bài thơ của Mãn Giác cũng là một thứ “vãn mai”. Tình điệu của hầu hết những bài thơ viết về “vãn mai” đều buồn thảm đều gợi lên cảnh xuân tàn đều nói đến chuyện li sầu biệt hận. Có một bài kết thúc nhìn qua tưởng giống như ở Cáo tật thị chúng:

        Cố viên hoa lạc tận
        Giang thượng nhất chi khai

(Vườn xưa hoa rụng hết

Trên sông một nhành mai nở)

                               (Mai hoa – Uông Trung)

Ở đây cũng có sự đối lâp giữa “một nhành mai nở” và cảnh “hoa rụng hết” như ở bài Cáo tật thị chúng song ý nghĩa của sự đối lập đó khác hẳn nhau. Tác giả Uông Trung (đời Thanh) quê ở Giang Tô nhưng lại làm quan ở vùng cực bắc. Khi ở vùng Giang Nam đã gần hết xuân thì phía Bắc hoa mai mới bắt đầu nở. Tác giả đã nhấn mạnh sự khác biệt về thời tiết để thể hiện nỗi nhớ quê da diết.

Càng đọc được nhiều thơ về “hoa mai” của Trung Quốc bao nhiêu tôi càng thấy rõ tầm cao tư tưởng cũng như sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Mãn Giác thiền sư bấy nhiêu. (…)

                               
(TPVC trong nhà trường – Những vấn đề trao đổi Tập I
                         NXB ĐHQG H. 2000 tr. 19-24)