Tiếp cận một số tác phẩm khó trong SGK Ngữ văn 11

Tiếp cận một số tác phẩm khó trong SGK Ngữ văn 11


GS. Phan Trọng Luận

Việc giải mã một số tác phẩm văn chương không thống nhất là chuyện đã xảy ra trong đời sống văn học cũng như trong nhà trường. ở lớp 11 chúng ta cũng gặp một số trường hợp cụ thể chưa thống nhất.


1. Về văn bản Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ lâu nay ta vẫn đánh giá tư tưởng đổi mới của chính khách này trên nhiều phương diện so với tầm nhận thức đương thời. Nhưng khi giảng văn bản này lại có chỗ không đơn giản. Vấn đề đặt ra là không phải đến Nguyễn Trường Tộ tầm quan trọng của luật pháp mới được đề cập đến. Từ bộ luật Hồng Đức cho đến bộ luật Gia Long nhà nước phong kiến cũng đã ý thức rõ sự cần thiết phải củng cố chế độ bằng pháp luật. Thậm chí có những điều luật khá tiến bộ mà ngày nay chúng ta vẫn có thể tiếp thu. Vậy thì cái mới trong cách đặt vấn đề cách hiểu của Nguyễn Trường Tộ là ở đâu ? Đó chính là vấn đề cốt lõi của lời điều trần cần được nhấn mạnh. Ông đã đi trước thời đại đã cập nhật được tư tưởng nhà nước pháp quyền tư tưởng pháp trị. Nhà nước pháp quyền mới thực sự bảo đảm cho nền dân chủ công bằng của xã hội. Người cầm quyền cũng phải đặt dưới pháp luật. Không một uy quyền nào một chức vị nào có thể làm sai pháp luật. Tư tưởng pháp quyền mà Nguyễn Trường Tộ nêu lên sẽ hạn chế được mọi quyền lực mọi đặc quyền đặc lợi của bọn thống trị đương thời và bảo vệ quyền lợi thực sự của người dân. Trong chế độ quân chủ chuyên chế có nhà vua tuyên bố: "Luật là ta". Trong xã hội dân chủ phương Tây nhà nước pháp quyền đã được vận dụng khá nghiêm ngặt. Người đứng đầu nhà nước không thể tuỳ tiện làm sai pháp luật hay đứng trên pháp luật. Trong hoàn cảnh xã hội nước ta hồi bấy giờ chế độ phong kiến cai trị người dân không theo pháp luật mà theo quyền hành của kẻ cầm quyền từ trung ương đến địa phương. Tư tưởng pháp trị mà Nguyễn Trường Tộ đề xướng vừa có ý nghĩa tiến bộ về luật pháp vừa có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân nhất là dân nghèo nước ta bấy giờ.


2. Chương trình chọn văn bản Về luân lí xã hội ở nước ta. Đây là một bài viết tiêu biểu cho tư tưởng chính trị cho cốt cách và văn phong của Phan Châu Trinh. ở đây ta sẽ gặp những cách đánh giá không dễ thống nhất về tư tưởng chính trị của tác giả. Câu thơ "Phan Châu Trinh lạc lối trời Âu - Bạn cùng ai năm tháng dãi dầu" cũng thể hiện phần nào một cách đánh giá khá phổ biến lâu nay. Gần đây với những công trình nghiên cứu có hệ thống và với tư duy chính trị cởi mở hơn việc đánh giá về Phan Châu Trinh ít nhiều cũng đã có những thay đổi. Tuy nhiên việc dạy văn bản này cũng có những khó khăn riêng.

Trước hết là một số thuật ngữ như xã hội luân lí quốc gia luân lí xã hội chủ nghĩa cần được hiểu cho tường minh. Chẳng hạn xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội) mà Phan Châu Trinh dùng ở đây không phải là chủ nghĩa xã hội mà chúng ta sau này vẫn quen dùng. ở đây cũng chỉ nói đến một thứ chủ nghĩa đề cao việc coi trọng xã hội coi trọng cộng đồng con người sống trong xã hội không thể chỉ quan tâm đến gia đình quốc gia mà phải quan tâm đến cả thế giới. Đây chính là một nhận thức mới mẻ có tính chất cách mạng của Phan Châu Trinh tuy nhiên không thể suy diễn đó là sự giác ngộ chủ nghĩa xã hội. Trong văn bản này điều cốt lõi mà tác giả nhấn mạnh chính là tinh thần đoàn kết trong xã hội để tạo nên sức mạnh chung của cả dân tộc không chịu bị áp bức để cho Việt Nam được độc lập tự do. Muốn thế thì phải có đoàn thể. Tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần từ đoàn thể.

Ở SGK Ngữ văn THPT nhất là ở bộ Chuẩn HS chỉ học sáu tác gia nhưng khi đi vào các tác phẩm cụ thể GV ít nhiều không thể không mở rộng thêm thông tin về tác giả qua phần Tiểu dẫn cũng như trong nội dung khai thác văn bản. Vì vậy khi học văn bản Về luân lí xã hội ở nước ta GV và HS nhất định phải đối diện phần nào với tư tưởng chính trị đường lối duy tân của Phan Châu Trinh một con người mà lâu nay bị chỉ trích là "ảo tưởng" với chủ trương dựa vào Pháp để giành độc lập và xây dựng nền dân chủ. Nhưng mặt khác lại phải thấy Phan Châu Trinh ngoài lòng yêu nước nồng nàn trước sau như một còn là một chính khách đã có những đường lối mới mẻ có tính chất cách mạng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của ông gắn liền với cuộc cách mạng về xã hội. Ông đề cao việc mở mang dân tộc để tự giải phóng khỏi sự thống trị của thực dân phong kiến mà ông căm ghét đến tận xương tuỷ. Đúng như Hoàng Xuân Hãn đã từng phân tích: "Sau khi phong trào Cần Vương bị đàn áp hoàn toàn Phan Châu Trinh đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hoá xã hội Việt Nam cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa đưa đến mất nước bị nô lệ ngày càng khốc liệt là sự thua kém của xã hội ta so với phương Tây". Đám tang Phan Châu Trinh cách đây hơn 80 năm hồi bấy giờ đã được Nguyễn ái Quốc đánh giá là "trong lịch sử người An Nam chưa từng được chứng kiến một sự kiện to lớn như vậy bao giờ". Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp những người bạn chiến đấu của Phan Châu Trinh coi ông là "nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam". Nhà sử học người Pháp Daniel Héméry cho rằng : "Những nhan đề do Phan Châu Trinh xác định từ thế kỉ XX các thế hệ người Việt Nam còn phải đảm nhận lâu dài"(1). Tách văn bản ra khỏi tác giả và bối cảnh xã hội bấy giờ sẽ không hiểu đúng những đóng góp quan trọng của Phan Châu Trinh trên phương diện yêu nước và cách mạng.


3. Bài viết Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn An Ninh lần đầu tiên được đưa vào học trong nhà trường phổ thông.

Bài được viết vào những năm đầu thế kỉ XX có giá trị khoa học đáng kể tuy nhiên có một vài đoạn không thích hợp dễ gây ngộ nhận trong tình hình chính trị văn hoá ngày nay nên đã lược bỏ.

Quan điểm của Nguyễn An Ninh về tiếng nói dân tộc là đúng đắn trên nhiều phương diện. Ông chống lại thói "Tây hoá" lố lăng làm tổn thương đến tiếng mẹ đẻ và đề cao sức mạnh của tiếng nói dân tộc như là người bảo vệ nền độc lập dân tộc như là một yếu tố quan trọng để giải phóng dân tộc. Ông phê phán quan niệm sai lầm cho rằng tiếng nước mình nghèo nàn và ông cũng nhận thức rất đúng đắn mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài.

Những ý kiến của Nguyễn An Ninh về tiếng mẹ đẻ đến nay vẫn còn giá trị nhất là từ góc nhìn văn hoá. Tuy nhiên cũng cần cân nhắc có nên tuyệt đối hoá sức mạnh và giá trị của tiếng nói dân tộc khi nói rằng : "Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập [...] là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị" hoặc quan niệm rằng: “Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn [...] việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian...". Vấn đề tiếng nói cũng như văn hoá dân tộc dù có quan trọng đến đâu cũng không thể tách rời khỏi nhiều yếu tố quan trọng khác như sức mạnh tự giải phóng dân tộc. Huống chi lúc bấy giờ dân tộc ta đang chịu sự thống trị của thực dân mọi yêu cầu phát huy sức mạnh của tiếng nói và văn hoá dân tộc cũng không dễ dàng thực hiện theo mong muốn chủ quan của các bậc thức giả. Khi học bài này cần đặt văn bản trong những mối quan hệ xã hội chính trị nhất là trong hoàn cảnh đất nước dưới ách thống trị của thực dân Pháp bấy giờ mới hiểu đúng hiểu đủ quan điểm của Nguyễn An Ninh. Để tiếp cận có hiệu quả một văn bản cũng như các hiện tượng văn hoá xã hội ... điều cần thiết quan trọng trước tiên là cần có phương pháp luận khoa học để nhìn nhận vấn đề theo nguyên tắc lịch sử và hệ thống trong nhiều mối quan hệ qua lại. Học một bài văn HS không chỉ dừng lại ở một văn bản cụ thể mà cần có những hiểu biết ngoài văn bản đặc biệt là phải được trang bị thêm phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Có như vậy việc học từng bài văn mới thực sự có chất lượng cao về kiến thức và phương pháp về văn chương và cả về văn hoá xã hội.


4. Cũng trên tinh thần đó cần có cách tiếp cận đúng đắn và toàn diện hơn bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh. Nhiều bài giảng những năm qua chỉ chú ý phân tích đặc điểm của thơ mới. Các nhà biên soạn hầu như chỉ nhìn văn bản thuần tuý từ góc độ văn chương mà không thấy phương diện thứ hai cái bề chìm của bài viết không kém quan trọng là tâm lí thời đại là bi kịch của lớp người trẻ đương thời một nguyên nhân sâu xa đưa họ đến với tiếng Việt và thơ mới. Có thể trích dẫn hàng loạt câu tiêu biểu cho ý tưởng này trong tiểu luận của Hoài Thanh: "Xuân Diệu nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại chỉ nói cái khổ sở cái thảm hại của hết thảy chúng ta"; "Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu."; "Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hoè phủ trên thi tứ. Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều một điều cần hơn trăm nghìn điều khác: một lòng tin đầy đủ.

Đó tất cả cái bi kịch đương diễn ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi trong hồn người thanh niên. Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt."


5. Ngoài những văn bản nêu ở đây còn có không ít văn bản khác cũng cần được trao đổi thêm. Ví dụ chủ đề chính của Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát có phải chỉ là tâm lí chán ghét lối học khoa cử và con đường mưu cầu hạnh phúc tầm thường hay không? Thương vợ của Tú Xương là một bài thơ khá quen thuộc ở nhà trường trong nhiều năm qua. Thế nhưng tiếp cận thế nào cho đúng là điều vẫn còn phải bàn thêm. Nếu coi bài thơ chỉ là tiếng nói thương vợ lam lũ hi sinh cho chồng con thì có hạ thấp bài thơ không và khai thác như vậy có phải là bất cập không ? Nên đánh giá lòng yêu nước của Nguyễn Khuyến đến mức nào là đúng ? Điều đáng biểu dương trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu là gì ? Xuân Diệu mang đến điều gì mới mẻ cho tuổi trẻ? Một quan niệm nhân sinh mới hay chỉ là quan niệm mới về tuổi trẻ và thời gian? v.v...

Kinh nghiệm cho hay văn bản có khi đã được giảng dạy một vài lần nhưng cách tiếp cận cách giải mã vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn bạc cân nhắc kĩ lưỡng hơn. Trong khi giảng dạy dĩ nhiên GV cũng có thể và cũng nên nêu cách hiểu của mình và cho phép HS được trao đổi ý kiến riêng. Trong tiếp nhận văn chương không thể áp đặt một cách hiểu duy nhất đúng. Thế nhưng trong nhà trường còn có chuyện thi cử của HS và SGK vẫn là chuẩn mực chung. Đó chính là cái khó cái bó buộc và cũng là cái sáng tạo của người GV chúng ta trước một tác phẩm văn chương được giảng dạy ở nhà trường.


P.T.L

---------------------

(1) Theo Lê Thị Minh Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới NXB Đà Nẵng 2003.

 

Lz

Da lon

Eo hay