Văn chương và những hệ lụy...

Văn chương và những hệ lụy...

Có 1001 lý do để các tác giả văn chương "gặp nạn" ngay trên bản thảo của chính mình. Đôi khi chỉ là sự tình cờ. Nhưng cũng khi là sự cố ý chọn một nguyên mẫu mà không chủ định "bôi đen" nhân vật. Nhân vật điển hình trong văn chương vừa mang tính cá biệt nhưng lại mang tính khái quát. Vì vậy thuở trước khi Nam Cao viết truyện ngắn Chí Phèo mới sảy ra cái chuyện nực cười là có một số vị chức sắc trong xã cứ khăng khăng đích thị ông xây dựng nhân vật Bá Kiến vừa nham hiểm vừa mưu mô và tàn nhẫn chính là ám chỉ... họ. Lại có nhưng có tác giả lại viết trong tâm trạng khác với ý định vô tư tích cực lại bị "xem lại" bởi lý do...chính trị-tất nhiên là qua sự suy diễn của một số người. Với thơ thì khó sảy ra nhưng với văn xuôi sự "vơ vào" vẫn xảy ra thường xuyên. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là chuyện vui buồn xoay quanh sự ngộ nhận này chỉ sảy ra với văn xuôi.

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

 

1. Nhà thơ Tạ Văn Sỹ ở Kon Tum xa xôi trước cách mạng anh làm nghề gõ đầu trẻ. Sau khi giải phóng miền Nam anh vẫn chọn nghề dạy trẻ để mưu sinh. Nhưng anh không chỉ có dạy học. Tạ Văn Sĩ có năng khiếu về thơ và làm thơ tương đối hay. Anh đã viết cho một mối tình cũ của mình một bài thơ sau khi duyên lứa không thành. Bài thơ của anh bộc lộ nỗi nhớ thương và luyến tiếc cuộc tình đã qua. Khi in xong nhiều người quy cho anh cái tội "nhớ người yêu cũ tức là nhớ chế độ cũ...". Thế là bỗng nhiên anh mất nghề dạy học vì những ý kiến có thẩm quyền quy chụp thiếu thiện chí hay nói đúng hơn là không hiểu gì về văn chương.

Tạ Văn Sỹ đành về nhà với vợ làm nghề xe ôm. Trên các con lộ phần nhiều là dốc ngược của Kon Tum có một người đàn ông luống tuổi da đen cháy thường xuyên chở khách và luôn đàm đạo với khách bằng những bài thơ rất hay nhiệt tình đưa đón khách trên những con đường đất đỏ mặc nắng cháy như hắt lửa vào mặt-đó chính là Tạ Văn Sỹ. Nghề xe ôm khiến anh có cái nhìn đa chiều toàn diện khái quát và sâu sắc hơn qua những mảnh đời thân phận. Nhà văn Bùi Bình Thi trong một lần ghé thăm Kon Tum đã vô cùng ngạc nhiên bởi vị chở xe ôm này. Ông đề nghị Tạ Văn Sỹ chở mình đi cả ngày và sẵn sàng làm vị khách trên chiếc xe cũng đen nhẻm bụi đường của anh rong ruổi trên các bản làng của vùng đất ba dan nắng gió nghiệt ngã . Ông yêu cầu Tạ Văn Sỹ phải chấp thuận sự "khứ hồi" của phần thời gian và quãng đường ở Kon Tum cho mình. Vị xe ôm-khách thơ này có một giọng thơ đặc biệt-vừa có cái quyết liệt của con người và vùng đất Tây Nguyên vừa nồng nhiệt và ân tình nhân hậu như chính con người ở mảnh đất ba dan nắng gió. Tất cả những điều này khiến cho nhà văn Bùi Bình Thi rất hài lòng và thích chú.

Tuy nhiên chuyện cũ về sự hệ lụy bởi bài thơ tình ngày nào khiến nhiều người biết câu chuyện cũ của anh xót xa và cảm thông. Vì đó là sự xuất phát của một cách nhìn thiển cận phi văn chương và thiếu thực tế của một thời.

Nhà văn-nhà giáo chuyên viết cho thiếu nhi Nguyễn Đình Quảng ( Hà Tây) đã in hơn 20 tập sách cho thiếu nhi ở các thể loại cũng tâm sự rằng ông từng bị hệ lụy bởi những bài thơ châm biếm của mình. Nhà giáo nhà thơ rất có sở trường trong việc xây dựng và khái quát nhân vật điển hình bằng thơ. Và thơ ông xuất hiện rất nhiều trên các báo chí trung ương và địa phương với thể loại này. Ông đã từng viết thơ châm các thói hư tật xấu của con người ở đời như đạo văn ngu xuẩn tham lam tham nhũng...của các tầng lớp mọi đối tượng. Thế nhưng đã có lần một nhân vật ngoài đời cứ khăng khăng ông viết bài thơ chống tham nhũng ấy là dành cho... ông ta. Có lẽ ông ta thấy mình trọn vẹn trong bài thơ ấy.

Nhà thơ giật mình và rất khó giải thích với kiểu quy chụp vơ vào ấy.

Có một nhà thơ ( không tiện nêu tên) viết một bài thơ tình rất hay đầu đề anh ghi " Với em". Ngay sát tên bài thơ anh ghi lời đề từ chung chung : "tặng em những ngày xưa cũ". Bất ngờ cô vợ cầm tinh Sư tử Hà Đông đọc được dưới dạng bản thảo đã nhảy dựng lên bắt anh phải tiết lộ danh tính người tình trong mộng nào đó. Anh bất ngờ trước cơn thịnh nộ của vợ giải thích ra sao nàng cũng không nghe. Anh bảo em có thể là một con người cụ thể nhưng cũng là thời gian là kỷ niệm. Với anh là kỷ niệm một thời đã qua. Anh còn so sánh với cô vợ chỉ giỏi ăn diện mà không hiểu chút nào về văn hóa đọc ấy rằng đã có nhà thơ gọi động vật thiên nhiên bằng em đấy thôi. Nói vậy nhưng cô vợ vẫn ấm ức không nguôi.

2. Như chúng ta đã biết trong chiến tranh văn học cũng như bất kỳ loại hình nghệ thuật nào đều phải có nhiệm vụ phục vụ kháng chiến những gì ủy mị mang sắc thái biểu cảm và dấu ấn cá nhân với tình cảm riêng tư đều trở thành lạc lõng với xu thế chung. Tuy nhiên bên cạnh mục đích phục vụ kháng chiến trong sự hào sảng của cuộc chiến thì thì không ít nhà thơ vẫn phản ánh và nhìn nhận cuộc sống kháng chiến trong lăng kính đa chiều. Cái chết nỗi đau của những con người là nạn nhân trong bom rơi đạn nổ là điều không tránh khỏi. Tâm trạng của các nhà thơ-khi viết về đề tài chiến tranh có cả nỗi đau sự ngậm ngùi chia sẻ và xót xa. Nhà thơ Phạm Tiến Duật và nhà thơ Ngô Văn Phú những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX đã bị hệ lụy bởi những bài thơ của chính mình. Bài thơ "Vòng trắng" của Phạm Tiến Duật và bài thơ "Sẹo đất" của Ngô Văn Phú đã khiến chủ nhân của chúng ...bị xem xét lại vấn đề tư tưởng khi sáng tác.

Vì vậy nhà thơ Phạm Tiến Duật sau khi in bài "Vòng trắng" của mình trên số 1/1974 của tạp chí Thanh Niên lập tức có ý kiến cho rằng bài thơ của ông là...có vấn đề. Có lẽ trong chiến tranh sự khốc liệt của cuộc chiến không cho phép những bài thơ bàn về sự chết chóc mang lại sự chán chường và tâm trạng ủy mỵ -khỏang tối của cảm xúc như vậy.

Về sau -vì tránh những chuyện phiền hà cho mình tác giả của "Vòng trắng" đã không in bài thơ ấy trong bất kỳ tập thơ nào của mình.

Cũng trên tạp chí Thanh Niên số 6/1974 bài thơ "Sẹo đất" của Ngô Văn Phú cũng bị coi là sợ hãi chiến tranh kém cỏi và hèn nhát( ?!?). Kể lại kỷ niệm một thời này nhà thơ Ngô Văn Phú cho biết: Năm 1972 máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội dữ dội. Ông là phóng viên của Báo Văn Nghệ lúc ấy do nhà văn Nguyễn Văn Bổng làm Tổng biên tập ông được phân công đi thực tế viết bài về chiến tranh ở Đông Anh. Cùng tổ của ông có Hồng Phi Nguyễn Thị Ngọc Tú Trần Hoài Dương và họa sĩ Phạm Hữu Trí. Trong mưa bom bão đạn nhà thơ Ngô Văn Phú đã đi lại như con thoi giữa Đông Anh và nội thành để viết bài theo yêu cầu của tòa soạn cùng anh em phóng viên. Ông chứng kiến những tổn thất trong chiến tranh chứng kiến mặt đất bị cày xéo khiến cho lúa không thể phủ xanh bởi những vết bom cày nát đen ngòm trên mặt đất. Cảm xúc được bật lên từ hiện thực nghiệt ngã ấy. Bài thơ "Sẹo đất" được nhà thơ viết vào năm 1973.

Nội dung bài thơ phản ánh cuộc chiến một cánh xót xa và chân thực của nỗi đau mất mát. Bài thơ viết về sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh khi mặt đất loang lổ những vết "sẹo đất"-hố bom sau mỗi đợt tấn công của máy bay Mỹ. Nhưng rất tiếc sự suy diễn về tư tưởng bài thơ và dụng ý của nhà thơ đã khiến tác giả lao đao. Ông bị cách chức bí thư chi bộ giáng xuống làm phó bí thư. Và nhiệm kỳ sau ông lại được... anh em trong chi bộ tín nhiệm làm tiếp trọng trách này.

Về sau trong tuyển thơ của mình ông đã cho in lại bài thơ. Nhiều đồng nghiệp thời ấy và cho đến bây giờ đánh giá cao bài thơ tố cáo chiến tranh này của ông.

Thế mới hay văn chương cũng có cái nghiệp của mình. Văn chương cũng có bao điều hệ lụy. Và nhà thơ đôi khi cứ ngỡ những tác phẩm của mình đơn thuần là con đẻ của cảm xúc trong sự "thăng" lên bất chợt chứ không phải cố ý nhằm biểu đạt một cái gì đó thật cao cả với ẩn ý nghĩa cao siêu. Hiện thực cuộc sống qua lăng kính đa chiều của nhà thơ đã để lại dấu ấn trong tác phẩm tùy theo quan niệm cách thể hiện riêng của mỗi người. Tất nhiên để đạt tầm lớn lao của nó nhà thơ cũng như nhà văn phải nhất thiết đem đến nhận thức mới mang tính tư tưởng thời đại thực sự có ý nghĩa nhân văn trong tác phẩm của mình.

Rất may những tác phẩm bị nhìn nhận là sai lệch có vấn đề trong tư tưởng một thời hiện nay lại được đón nhận trong cách nhìn mới đa chiều cởi mở đúng đắn hơn. Cũng giống như sau đổi mới chúng ta nhìn nhận lại hiện tượng của văn học giai đoạn 1930-1945 với các tác giả văn học lãng mạn để trả lại giá trị và sự đóng góp đích thực của dòng văn học này trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam.

Sau đây là hai bài thơ của các tác giả Ngô Văn Phú và Phạm Tiến Duật hai nhà thơ cùng quê ở Vĩnh Phúc.

 

Phạm Tiến Duật

Vòng trắng

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

 

Ngô Văn Phú

Sẹo đất

Cái hố bom nằm trên vạt ruộng
Dẫu san bằng vẫn cứ nhận ra
Đến mùa bừa chân bước nhấp nhô
Lúa cấy kín vệt tròn còn đấy
Tưởng trên da thịt mình mới sẹo
Ai ngờ đất cũng sẹo như người

Trong chiến tranh đạn cắm tay tôi
Trong chiến tranh hố bom dầy đất
Hết chiến tranh tôi về hợp tác
Đất chuyển vần vụ lúa vụ khoai

Mỗi đợt trở trời
Vết sẹo trên tay tôi nhức
mỗi đợt trở trời
Cái hố bom sẹo đất
Có làm đất nhức không đất ơi?

Đất có màu xanh
Tôi có cuộc đời
Những vết sẹo mãi còn nhắc nhở
Những điều cần nói với ngày mai...

Chu Thị Thơm

 

 

hoàng phong tuấn

không có

Ngày xưa Platon đã đòi đuổi các nhà thơ ra khỏi nước Cộng hòa của ông. Gia Long khi nghe câu: "Phen này nếu gặp tể tướng trong núi" đã buộc Nguyễn Văn Thuyên tội tiếm nghịch. Và nỗi niềm của nhóm Nhân văn giai phẩm vẫn còn đó.

Văn chương và chính trị tự bao đời luôn là một mối tình mưa-nắng. Khi nắng thì vui khi mưa thì buồn.

Nhà văn ít khi nhận thức được như vậy. Vì nhà văn bao giờ cũng lí tưởng hóa vấn đề. Tôi rất ngưỡng mộ sự thay đổi lối viết của Nguyễn Huy Thiệp. Đó là thứ văn chương rác rưởi một cách phản ứng rất...hậu hiện đại... Một loại tự sự phá bĩnh trong một không gian tự sự khổng lồ.

Trường Sơn

Dân tình tấp cổ bế họng . . . cả đời chỉ biết đi kiện !

Từ tội “lưu hành tài liệu” chuyển sang tội “sáng tác thơ”

Sáng 26/7/1993 thầy Phương đến TP Vinh (Nghệ An) photocopy một số tài liệu liên quan tiêu chuẩn chế độ của giáo viên. Khi vừa vào một cửa hàng để photocopy tài liệu gửi Sở GD&ĐT thì hai chiến sỹ công an TP Vinh xuất hiện.

Thầy Phương chỉ biết một người tên là Sửu vào yêu cầu khám kiểm tra hiệu photocopy. Sau đó hai chiến sỹ công an nói trên yêu cầu thầy Phương đến trụ sở CATP Vinh làm việc.

Ngày 8/8/1993 có lệnh tạm giam 2 tháng đối với thầy Phương để phục vụ điều tra nhưng không phải về tội “lưu hành tài liệu” nữa mà là “tội” sáng tác bài thơ “Cột mốc” hay là “cột ngốc”.

Ngày 23/10/1993 Viện Kiểm sát Nam Đàn do ông Trần Xuân Thành (hiện vẫn là Viện trưởng) ra quyết định “truy tố” thầy Nguyễn Đình Phương về tội Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước tổ chức xã hội hoặc của công dân.

Ngày 24/8/2008 thầy Phương cho Tiền phong biết ông đã chính thức gửi “Đơn khởi kiện ra Tòa án dân sự” để yêu cầu minh oan và bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết 388.

Trường Sơn

Chẳng biết đâu mà lường . . . !?

Luận văn chương với chính trị xin giới thiệu bài viết từ các bản báo để cộng đồng Blogs cùng đọc "sôi máu" chơi.

Chỉ vì bài thơ "Cột mốc" hay là "cột ngốc" mà tác giả - thầy giáo Nguyễn Đình Phương (giáo viên trường THCS Vân Diên Nam Đàn Nghệ An) bị tù oan 4 tháng. Từ đó đến nay ngót 15 năm trời thầy Phương mòn mỏi đi đòi công lý.

“Cột mốc” hay là “cột ngốc”

Nguyễn Đình Phương

Cột mốc cắm ở đường biên
Phân chia ranh giới nối liền Quốc gia
“Cột ngốc” của huyện nhà ta
Chia đôi Tân -Thượng như là khối u
“Cá rán dân biếu mèo mù”
Chỉ đạo kiểu ấy đáng “tù mọt gông”
Vì sao Tân-Thượng bất đồng?
Cần chi cột mốc nằm không giữa trời.
Đau lòng Tân - Thượng mình ơi
Nhổ ngay “cột ngốc” vạn đời vui chung.
(26/3/1993)

Trường Sơn

Có nên bàn luận không ?

Tôi từng là sinh viên văn khoa. Tôi học văn chương là có "máu" trong mình chứ không phải như nhiều người khác học để có nghề câu cơm. Tôi ban đầu cũng ngông - ngang lắm. Tôi sáng tác không nhiều mà dè chừng vài đồng nhuận bút để không áy náy khi ly cà phê điếu thuốc với bạn bè.

Nay tôi công tác ở một cơ quan Nhà nước. Là người trong cuộc nên mới thấy "nhiều thứ" trái tai gai mắt. Một số người tiêu biểu được nhân dân Đảng ta tín nhiệm giao trọng trách quyền lực trong tay để thực hiện nhiều nhiệm vụ CT - KT - XH. Nhưng phải nói là nhiều người lợi dụng quyền lực thực thi nhiệm vụ một cách thiển cận chưa nói là "ẩu" hết sức. Với cách nhìn máy móc vênh lệch nên họ đã tạo ra những quyết định chưa thực sự đúng đắn gây nên những hậu quả đáng lo ngại. Thực tế nhiều văn sỹ đã "bỏ mạng" bỡi những đứa con tinh thần của mình.

Tuy nhiên cũng phải nói là làm cái gì chúng ta cũng phải tư duy thật cẩn trọng. Tôi không phải giáo huấn ai cả nhưng chúng ta phải biết mình là công dân của Nước CHXHCN Việt Nam. Như vậy tất nhiên là văn chương của chúng ta phải theo tôn chỉ mục đích của XHCN rồi phải không ? Ở đây tôi không có ý nói cứng nhắc trong sáng tác - bỡi ta đã được "cỡi trói" rồi mà là hãy làm cái gì (kể cả sáng tác) có lợi cho nhiều người nhiều nhà góp phần phát triển ngành (lĩnh vực) vừa hay vừa mang tích tích cực có lợi cho chế độ là OK !

Nói là vậy chứ thực ra từ Đông sang Tây từ Cổ tới Kim cứ hễ văn chương có dính líu tới chế độ chính trị thì coi như là "tự sát". Theo tôi có cần nên hay không đưa lên Blogs những bài nghiên cứu tác phẩm văn thơ còn "mù mờ" chưa rõ ràng về chính trị. Có như vậy mới "yên thân".

tranbinh

bài viết của bạn gợi lại những hệ lụy buồn buồn nhức nhối là xung quanh chúng ta hiện nay vẩn còn nhiều lắm những trường hợp quy chụp tương tự. Khổ thân cho người làm văn.
Hai bài thơ rất quí.